Y học tái tạo giúp con người mọc lại các bộ phận đã mất

Mỗi năm, có hàng ngàn người trên thế giới đang phải trải qua một ca phẫu thuật cắt bỏ gan. Nó là hậu quả của một khối u ung thư hoặc một tai nạn nghiêm trọng, trong đó, xương lồng ngực của họ không đủ để bảo vệ lá gan khỏi bị dập nát. Nhưng nếu may mắn bạn có thể giữ lại được một nửa lá gan của mình, thì chỉ 5 tiếng đồng hồ sau... nó bắt đầu mọc trở lại. Ba tháng là khoảng thời gian đủ để lá gan tái tạo hoàn chỉnh cả về kích thước lẫn chức năng của nó. Trên thực tế, gan chính là bộ phận duy nhất trên cơ thể người có khả năng mọc trở lại sau khi bị cắt bỏ một phần. Trong nỗ lực học tập các loài sinh vật khác và tìm hiểu tiềm năng tái sinh ở con người, một lĩnh vực y học mới được gọi là "y học tái tạo" đã ra đời. Thuật ngữ này lần đầu tiên được một giáo sư tại Trường Y Harvard là William A.Haseltine phát biểu vào năm 1999.

Y học tái tạo giúp con người mọc lại các bộ phận đã mất
: :

Mỗi năm, có hàng ngàn người trên thế giới đang phải trải qua một ca phẫu thuật cắt bỏ gan. Nó là hậu quả của một khối u ung thư hoặc một tai nạn nghiêm trọng, trong đó, xương lồng ngực của họ không đủ để bảo vệ lá gan khỏi bị dập nát.
Nhưng nếu may mắn bạn có thể giữ lại được một nửa lá gan của mình, thì chỉ 5 tiếng đồng hồ sau... nó bắt đầu mọc trở lại. Ba tháng là khoảng thời gian đủ để lá gan tái tạo hoàn chỉnh cả về kích thước lẫn chức năng của nó. 
Trên thực tế, gan chính là bộ phận duy nhất trên cơ thể người có khả năng mọc trở lại sau khi bị cắt bỏ một phần.


Trong nỗ lực học tập các loài sinh vật khác và tìm hiểu tiềm năng tái sinh ở con người, một lĩnh vực y học mới được gọi là "y học tái tạo" đã ra đời. Thuật ngữ này lần đầu tiên được một giáo sư tại Trường Y Harvard là William A.Haseltine phát biểu vào năm 1999. 
Haseltine định nghĩa y học tái tạo là "một liệu pháp ... sử dụng gen người, protein và tế bào để tái phát triển, phục hồi hoặc thay thế cơ học cho các mô bị tổn thương do chấn thương, bệnh tật hoặc bị bào mòn bởi thời gian. Y học tái tạo mang lại triển vọng chữa khỏi các bệnh ngày nay không thể điều trị hiệu quả, kể cả những bệnh liên quan đến lão hóa".


Hãy lấy một ví dụ, những bệnh nhân tiểu đường thường phải đối mặt với những vết loét hoại tử ở bàn chân. Nếu không được chữa trị kịp thời, họ có thể phải đối mặt với việc phải cắt cụt chi. 
Nhưng trong nghiên cứu được thực hiện vào năm 2020, một nhóm các nhà khoa học tại Đại học Colarado đã tạo ra được các tế bào gốc trung mô mà chỉ cần bôi vào vết loét của bệnh nhân tiểu đường, vết loét sẽ tự động lành lại. 
Đó là bởi các tế bào gốc là tế bào có khả năng biệt hóa thành các tế bào khác. Khi được kích thích, tế bào gốc trung mô trong trường hợp này có thể biến thành nguyên bào xương, nguyên bào sụn, tế bào cơ, tế bào mỡ,… và trám vào các vị trí tổn thương của con người.
Tế bào gốc có thể được thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau như: tủy xương, mô mỡ, dây rốn trẻ sơ sinh, nhau thai, dịch ối, răng sữa, nội mạc tử cung… và hiện đang là một trung tâm của lĩnh vực y học tái tạo. 
Hàng trăm thử nghiệm lâm sàng liên quan đến tế bào gốc đang được thực hiện trong lĩnh vực y học tái tạo, chẳng hạn như để điều trị:


Bỏng, trong đó tế bào gốc được hướng dẫn để biến thành tế bào da và trám lên vết thương. Tiểu đường, khi tế bào gốc được biến thành các tế bào đảo tụy sản sinh ra insulin nội sinh, nhờ đó bệnh nhân không còn phải tiêm insulin bên ngoài nữa. Bệnh tim, trong đó các mô sẹo hình thành sau cơn đau tim vốn không thể lành lại nhưng sẽ được tế bào gốc tái sinh.
Tế bào gốc còn có thể được dùng để điều trị vô sinh do thiếu tế bào gốc tinh trùng, điều trị hói, nhằm phát triển lại các nang tóc bị mất, thay thế giác mạc bị tổn thương, điều trị viêm khớp, bệnh Parkinson, Alzheimer, xơ cứng động mạnh, bệnh Crohn, thậm chí cả ung thư…
"Nhưng y học tái tạo không chỉ giới hạn trong việc ứng dụng tế bào gốc", giáo sư Haseltine cho biết. Một chân kiềng trong lĩnh vực này được gọi là kỹ thuật mô cũng "đang chứng minh được vị thế của mình là một trong những phát triển mới thú vị nhất của lĩnh vực y học tái tạo".
Kỹ thuật mô (tissue engineering) là việc kết hợp các kỹ thuật y sinh với tế bào, phương pháp vật liệu, các yếu tố hóa, lý phù hợp để khôi phục, duy trì, cải thiện hoặc thay thế các loại mô sinh học khác nhau.
Trong y học tái tạo, kỹ thuật mô thường liên quan đến việc lắp ghép và nuôi cấy tế bào trên giá thể, là các giàn làm từ vật liệu sinh học tự tiêu sau khi mô bám vào, giúp phục hồi các tổn thương hoặc khiếm khuyết trên cơ thể bệnh nhân.


Phương pháp này đã được dùng để tạo ra thịt trong ống nghiệm , gan sinh học , tuyến tụy nhân tạo để cấy ghép cho người bệnh tiểu đường, sụn và mạch máu nhân tạo , da và tủy xương nhân tạo, các mô niêm mạc và thậm chí cả dương vật nhân tạo. ..
Nếu trong tương lai bạn nghe thấy một cơ quan nào đó nhân tạo được cấy ghép thành công cho bệnh nhân, thì tới 99% nó đã được làm ra từ kỹ thuật mô.
Giáo sư Haseltine cho biết trong một nghiên cứu đột phá thuộc vào lĩnh vực này, các bác sĩ đã giúp cho 4 cô gái lần đầu tiên có được âm đạo kể từ khi họ sinh ra. Những cô gái này mắc phải một hội chứng bẩm sinh hiếm gặp được gọi là Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser (MRKHS). Trong đó, âm đạo của họ bị biến mất hoàn toàn hoặc giả có cũng bị khiếm khuyết, không có chức năng bình thường.